Tình hình kinh tế-xã hội quý I năm 2012

Cập nhật ngày: 03/04/2012

Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2012 của nước ta được triển khai trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, thách thức. 

Kinh tế thế giới chưa có nhiều chuyển biến khả quan, còn tiềm ẩn yếu tố rủi ro và được dự báo tiếp tục có những biến động khó lường. Ở trong nước, hoạt động sản xuất kinh doanh đầu năm tiếp tục bị áp lực do lãi suất vay và huy động vốn cao, mức tiêu thụ sản phẩm đạt thấp. Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được trong năm 2011 cùng với phân tích đầy đủ các yếu tố thuận lợi, khó khăn ở trong và ngoài nước, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2012 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2012. Theo đó, mục tiêu tổng quát của năm 2012 là ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn.

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 4,00% so với cùng kỳ năm 2011, thấp hơn mức tăng 5,57% của cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,84%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 2,94%, đóng góp 1,27 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,31%, đóng góp 2,40 điểm phần trăm.

Tăng trưởng kinh tế quý I năm nay đạt mức thấp do hầu hết các ngành, lĩnh vực gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Tốc độ tăng của ngành này chậm hơn cùng kỳ năm trước và hoạt động xây dựng giảm dẫn đến tốc độ tăng của khu vực công nghiệp và xây dựng quý I năm nay tăng chậm so với cùng kỳ năm trước, từ đó ảnh hưởng đến mức tăng trưởng chung của nền kinh tế.  

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

quý I các năm 2011 và 2012

 

 

Tốc độ tăng so với

quý I năm trước (%)

Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng quý I năm 2012

(Điểm phần trăm)

 

Quý I năm 2011

Quý I năm 2012

Tổng số

5,57

4,00

4,00

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

3,65

2,84

0,33

Công nghiệp và xây dựng

5,71

2,94

1,27

Dịch vụ

5,93

5,31

2,40

 

Tổng sản phẩm trong nước quý I năm 2012

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Quý I năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 50,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 37,7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2%; lâm nghiệp đạt 1,6 nghìn tỷ đồng, tăng 6,1%; thủy sản đạt 11,1 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9%.

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản theo giá so sánh 1994

Nông nghiệp

Tính đến ngày 15 tháng Ba, cả nước đã gieo cấy được 3065,9 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1106,5 nghìn ha, bằng 101,1%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1959,4 nghìn ha, bằng 99%. Do thời tiết trong tháng tương đối thuận nên tiến độ gieo cấy lúa đông xuân năm nay ở các địa phương phía Bắc nhanh hơn cùng kỳ năm trước, tạo điều kiện cho lúa sinh trưởng và phát triển tốt.

 Tính đến trung tuần tháng Ba, các địa phương phía Nam đã thu hoạch 835,9 nghìn ha lúa đông xuân, chỉ bằng 82,2% cùng kỳ năm trước do lịch xuống giống năm nay muộn, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 805,2 nghìn ha, chiếm 51% diện tích xuống giống và bằng 81,2%. Một số địa phương có diện tích thu hoạch lúa đông xuân thấp là: An Giang bằng 29% cùng kỳ năm trước; Đồng Tháp bằng 39%; Cần Thơ bằng 62%; Kiên Giang bằng 71%. Theo ước tính sơ bộ, năng suất lúa đông xuân vùng đồng bằng sông Cửu Long tăng khoảng 1 tạ/ha so với vụ đông xuân 2011; sản lượng đạt 10,7 triệu tấn, tăng gần 200 nghìn tấn. Năng suất lúa tăng chủ yếu do thời gian ngập lũ kéo dài cuối năm trước mang lại lượng phù sa nhiều, làm cho đất đai thêm màu mỡ; mặt khác do sử dụng các giống lúa năng suất cao và thực hiện tốt công tác phòng trừ sâu bệnh cũng như ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong quá trình chăm bón nên hạn chế được dịch bệnh, giúp lúa sinh trưởng và phát triển tốt.

Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, tính đến giữa tháng Ba, cả nước đã gieo trồng được 329 nghìn ha ngô, bằng 93% cùng kỳ năm trước; 88,1 nghìn ha khoai lang, bằng 105,6%; 432,4 nghìn ha rau đậu, bằng 106,5%. Riêng diện tích đỗ tương và lạc giảm mạnh so với cùng kỳ, trong đó đỗ tương đạt 52,3 nghìn ha, bằng 50,9%; lạc đạt 146,7 nghìn ha lạc, bằng 88,6%. Nguyên nhân do vụ đông 2011-2012 ở các địa phương phía Bắc có thời vụ ngắn, thời tiết lại mưa nhiều nên nông dân chủ yếu gieo trồng các loại cây ngắn ngày, chi phí đầu vào thấp để bảo đảm giải phóng đất cho gieo cấy lúa đông xuân đúng thời vụ. Một số địa phương có diện tích đậu tương giảm mạnh là: Hà Nội giảm trên 20 nghìn ha; Thái Bình giảm 8,7 nghìn ha; Hà Nam giảm hơn 7 nghìn ha; Ninh Bình giảm 6,8 nghìn ha; Vĩnh Phúc giảm 2,2 nghìn ha.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm ba tháng đầu năm gặp một số khó  khăn. Thời tiết rét đậm, rét hại đã làm 1,5 nghìn con gia súc bị chết, trong đó chủ yếu là trâu, bò già và bê, nghé. Ngoài ra, diện tích chăn thả gia súc đang bị thu hẹp, thời gian tái đàn lâu làm ảnh hưởng đến tổng đàn. Chăn nuôi gia cầm bị ảnh hưởng do dịch cúm gia cầm bùng phát tại nhiều địa phương trên cả nước. Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và bị tiêu huỷ là 66,5 nghìn con.

Theo báo cáo sơ bộ, trong ba tháng đầu năm, đàn trâu, bò giảm khoảng 7% so với cùng kỳ năm trước, riêng đàn bò sữa tăng trên 10%; đàn lợn mặc dù tăng 3-4% nhưng giá thịt lợn đang có xu hướng giảm do tâm lý lo ngại của người tiêu dùng về việc sử dụng chất kích thích trong chăn nuôi tại một số địa phương; đàn gia cầm tuy bị ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nhưng do tổng đàn tăng khá cao vào thời điểm cuối năm trước nên ước tính tăng 4-5%. Tính đến ngày 25/3/2012, dịch cúm gia cầm đã được khống chế; dịch bệnh khác chưa qua 21 ngày còn ở các địa phương là: Dịch lở mồm long móng trên trâu, bò ở Hà Nam; dịch tai xanh trên lợn ở Điện Biên.

Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 3 năm 2012

Lâm nghiệp

Hoạt động lâm nghiệp những tháng đầu năm tập trung chủ yếu vào trồng rừng, chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ rừng; đồng thời quan tâm đến công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô. Tổng diện tích rừng trồng tập trung ba tháng đầu năm ước tính đạt 16,7 nghìn ha, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương trồng được nhiều diện tích rừng là: Yên Bái 3667 ha; Thanh Hóa 1614 ha; Phú Thọ 1450 ha; Quảng Ninh 1440 ha; Hà Tĩnh 1335 ha. Diện tích rừng trồng được chăm sóc quý I đạt 138 nghìn ha, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2011; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh 592 nghìn ha, tăng 2,8%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 62 triệu cây, tăng 2,8%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1045 nghìn m3, tăng 9,3%; sản lượng củi khai thác đạt 7195 nghìn ste, tăng 2,3%. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác cao là: Bình Định 56 nghìn m3, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước; Phú Thọ 54 nghìn m3, tăng 27,8%; Quảng Nam 45 nghìn m3, tăng 7,5%; Thừa Thiên - Huế 44 nghìn m3, tăng 4,2%; Quảng Bình 30 nghìn m3, tăng 35,3%; Quảng Ninh 29 nghìn m3, tăng 68,3%; Lâm Đồng 24 nghìn m3, tăng 5,2%; Lạng Sơn 23 nghìn m3, tăng 15,2%; Long An 22 nghìn m3, tăng 5%.

Thời tiết vào mùa khô hạn nên nhiều địa phương có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Đặc biệt vào trung tuần tháng Ba đã xảy ra cháy rừng gay gắt ở các tỉnh vùng Tây Bắc, điển hình là vụ cháy rừng quốc gia Hoàng Liên. Theo tổng hợp sơ bộ, đến trung tuần tháng Ba đã xảy ra 45 vụ cháy rừng làm thiệt hại 632 ha, gấp 12 lần cùng kỳ năm trước, riêng khu vực Tây Bắc thiệt hại 618 ha; diện tích rừng bị phá là 69 ha. Theo thông tin cảnh báo cháy rừng, cả nước có 15 tỉnh có khu vực nguy cơ cháy rừng ở cấp IV - cấp nguy hiểm và cấp V - cấp cực kỳ nguy hiểm, trọng điểm là các tỉnh thuộc các vùng: Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.

Thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản ba tháng đầu năm nay ước tính đạt 1138,2 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 858 nghìn tấn, tăng 3,8%; tôm đạt 104,5 nghìn tấn, tăng 6%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng ba tháng ước tính đạt 511,6 nghìn tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó cá đạt 380,2 nghìn tấn, tăng 5%; tôm đạt 76,1 nghìn tấn, tăng 7%. Nuôi trồng thủy sản quý I năm nay tương đối thuận lợi do giá cả các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực tăng đã khuyến khích nông dân mở rộng diện tích thả nuôi. Nuôi trồng cá tra tuy có khởi sắc nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro do giá cá tra nguyên liệu bấp bênh, không ổn định. Sản lượng cá tra thu hoạch của các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long ba tháng ước tính đạt gần 240 nghìn tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có sản lượng cá tra tăng khá là: Đồng Tháp đạt 73 nghìn tấn, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm 2011; Bến Tre đạt 36 nghìn tấn, tăng 50%; Cần Thơ đạt 25 nghìn tấn, tăng 36%. Một số địa phương có sản lượng cá tra đạt thấp là: An Giang 77 nghìn tấn, giảm 14,4% so với cùng kỳ năm trước; Vĩnh Long 22 nghìn tấn, giảm 19%.

Sản lượng tôm nuôi thu hoạch trong kỳ chủ yếu trên phần diện tích thả nuôi tỉa thưa và thả bù. Nuôi tôm sú thâm canh đang trong thời kỳ cải tạo ao đầm, rải rác một số địa phương đã xuống giống. Tuy nhiên, hiện dịch bệnh đã phát sinh và lan rộng ở một số địa phương, trong đó Trà Vinh có trên 31 triệu con giống bị chết trên diện tích 1000 ha mặt nước; Sóc Trăng có 260 ha bị nhiễm bệnh; Tiền Giang 64 ha. Do đó các địa phương cần tập trung kiểm soát chặt chẽ lịch thả nuôi và công tác kiểm dịch để bảo đảm chất lượng và số lượng con giống. Nuôi tôm hùm lồng cũng gặp một số khó khăn về dịch bệnh phát sinh, tại Phú Yên có khoảng 7,5 nghìn lồng nuôi tôm hùm từ 6-10 tháng tuổi bị chết do mắc bệnh sữa, đen mang và thân đỏ.

Nuôi trồng các loại thủy sản khác tương đối ổn định theo hướng đa canh, đa con kết hợp, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo đảm môi trường sinh thái bền vững. Mô hình nuôi phổ biến tại các địa phương là kết hợp tôm - cá, tôm - cua, tôm - lúa, lúa - cá hoặc nuôi lồng, bè trên biển với các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao như: Cá mú, cá giò, tu hài.

Sản lượng thủy sản khai thác quý I ước tính đạt 626,6 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển đạt 581,6 nghìn tấn, tăng 3,1%. Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ xăng dầu cho tàu có công suất lớn khai thác trên các vùng biển xa bờ và triển khai dự án quan sát bằng vệ tinh cho tàu cá có công suất 90CV trở lên ở các địa phương tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân yên tâm ra khơi đánh bắt.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp ba tháng đầu năm tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2011. Trong chỉ số sản xuất chung toàn ngành công nghiệp quý I năm nay, công nghiệp khai thác mỏ tăng 3,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,2%; sản xuất, phân phối điện, ga, nước tăng 13,7%. Trong ba ngành công nghiệp trên, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành tác động chủ yếu đến chỉ số sản xuất chung do chiếm tỷ trọng cao nhất trong giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp với mức khoảng 75%. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu sản phẩm của ngành này gặp nhiều khó khăn dẫn đến kết quả đạt thấp hơn nhiều so với cùng kỳ một số năm trước (Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cùng kỳ các năm 2010 và 2011 tương ứng là: 10,6% và 13,4%).

Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất ba tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Đóng và sửa chữa tàu tăng 177,8%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 20,1%; sản xuất sản phẩm bơ, sữa tăng 18,9%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 16%; sản xuất thức ăn gia súc tăng 15%; sản xuất, tập trung và phân phối điện tăng 14,2%; chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản tăng 12,2%. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng khá là: Khai thác, lọc và phân phối nước tăng 8,4%; sản xuất đường tăng 7,3%; sản xuất trang phục (trừ quần áo da lông thú) tăng 6,3%; khai thác dầu thô và khí tự nhiên tăng 6%. Nhiều ngành có chỉ số sản xuất tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất thuốc lá, thuốc lào tăng 3,8%; sản xuất gạch, ngói và gốm, sứ xây dựng không chịu lửa tăng 2%; khai thác và thu gom than cứng tăng 0,8%; sản xuất đồ uống không cồn giảm 5%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ giảm 5,9%; sản xuất giày, dép giảm 6,9%; sản xuất xi măng giảm 10,7%; sản xuất sắt, thép giảm 15,8%; sản xuất xe có động cơ giảm 17,5%; sản xuất cáp điện và dây điện có bọc cách điện giảm 19,1%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I năm 2012 so với cùng kỳ năm trước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,4%; Hà Nội tăng 2,8%; Đồng Nai tăng 7%; Bình Dương tăng 4,3%; Bà Rịa -Vũng Tàu tăng 5,2%; Hải Phòng tăng 2,3%; Vĩnh Phúc tăng 18,7%; Cần Thơ tăng 3%; Hải Dương tăng 6,1%; Đà Nẵng tăng 2%.

Chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hai tháng đầu năm tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao là: Chế biến và bảo quản rau quả tăng 47,5%; sản xuất sản phẩm bơ, sữa tăng 28,3%; sản xuất đường tăng 20,2%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá là: Sản xuất thức ăn gia súc tăng 14,1%; chế biến bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản tăng 11,6%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất xe có động cơ tăng 4,9%; sản xuất thuốc lá, thuốc lào tăng 3,5%; sản xuất giày, dép giảm 10,1%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 15,4%; sản xuất xi măng giảm 15,7%; sản xuất đồ uống không cồn giảm 20,1%; sản xuất sắt, thép giảm 24,9%; sản xuất giấy nhăn và bao bì giảm 26,1%; sản xuất cáp điện và dây điện có bọc cách điện giảm 30,1%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 35,7%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm liên tục qua các tháng gần đây là: Sản xuất xe có động cơ; sản xuất sắt, thép; sản xuất cáp điện và dây có bọc cách điện.

Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/3/2012 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 34,9% so với cùng thời điểm năm trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng khá cao là: Chế biến và bảo quản rau quả tăng 87,2%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 62,7%; sản xuất sắt, thép tăng 59,1%; sản xuất các sản phẩm thuốc lá, thuốc lào tăng 58%; sản xuất xi măng vôi, vữa tăng 55%; sản xuất xe có động cơ tăng 38,7%. Một số ngành có chỉ số tồn kho cao và có xu hướng tăng lên qua các tháng gần đây là: Chế biến và bảo quản rau quả; sản xuất các sản phẩm thuốc lá, thuốc lào; sản xuất xi măng vôi, vữa; sản xuất giày dép; sản xuất xe có động cơ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất đồ uống không cồn tăng 11%; sản xuất giấy nhăn và bao bì tăng 9,2%; sản xuất sợi và dệt vải tăng 6,6%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp