Tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2014

Cập nhật ngày: 02/10/2014

Kinh tế - xã hội nước ta 9 tháng năm 2014 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới hồi phục chậm và không đồng đều giữa các nền kinh tế sau suy thoái toàn cầu. Ngoài ra, tình hình chính trị bất ổn tại một số quốc gia, nhất là khu vực châu Âu dẫn đến kinh doanh trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp cũng như xuất khẩu của khu vực đồng EURO bị ảnh hưởng mạnh bởi các biện pháp trừng phạt kinh tế giữa các nước trong khu vực.

Ở trong nước, kinh tế vĩ mô diễn biến theo hướng tích cực. Tuy nhiên, tổng cầu của nền kinh tế tăng chậm, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn khó khăn, tồn kho hàng hóa vẫn ở mức cao. Sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu. Tình hình biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp, ảnh hưởng phần nào đến động thái phát triển kinh tế - xã hội và đời sống dân cư cả nước.

Trước tình hình đó, Đảng, Quốc hội và Chính phủ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các cấp và địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nhằm từng bước thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả năm. Kết quả hoạt động của các ngành, lĩnh vực trong 9 tháng thể hiện qua những chỉ tiêu cụ thể như sau:

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2014 ước tính tăng 5,62% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó quý I tăng 5,09%; quý II tăng 5,42%; quý III tăng 6,19%. Đây là mức tăng cao so với mức tăng cùng kỳ năm 2012 và 2013, cho thấy dấu hiệu tích cực của nền kinh tế. Trong mức tăng 5,62% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,00%, cao hơn mức 2,39% của cùng kỳ năm 2013, đóng góp 0,54 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,42%, cao hơn mức 5,20% của 9 tháng năm 2013, đóng góp 2,46 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,99%, mức tăng của cùng kỳ năm 2013 là 6,25%, đóng góp 2,62 điểm phần trăm.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành thủy sản có mức tăng cao nhất với 6,15%, nhưng chỉ đóng góp 0,21 điểm phần trăm vào mức tăng chung do chiếm tỷ trọng thấp; ngành nông nghiệp mặc dù tăng thấp ở mức 2,10% nhưng quy mô trong khu vực lớn hơn (Khoảng 75%) nên đóng góp 0,29 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,88%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 6,44% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo có những chuyển biến tích cực với mức tăng 8,57%, cao hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ một số năm trước, góp phần quan trọng đến mức tăng trưởng chung. Ngành khai khoáng giảm 0,61%. Ngành xây dựng tăng 6,30%, cao hơn mức tăng 5,34% của 9 tháng năm 2013.

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 6,02% so với cùng kỳ năm 2013; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,34%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,44%. Hoạt động kinh doanh bất động sản được cải thiện nhiều với mức tăng 2,93%, cao hơn mức tăng 1,91% của cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do lãi suất ngân hàng tiếp tục giảm, chính sách của Nhà nước về hỗ trợ ngành bất động sản đã và đang phát huy tác dụng cùng với những điều kiện cho vay mua nhà được nới lỏng.

Về cơ cấu kinh tế 9 tháng năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 17,40%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,04%; khu vực dịch vụ chiếm 44,56% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2013 là: 17,85%; 37,86% và 44,29%).

Xét về góc độ sử dụng GDP của 9 tháng, tiêu dùng cuối cùng tăng 5,28% so với cùng kỳ năm 2013, đóng góp 4,02 điểm phần trăm vào mức tăng chung (Tiêu dùng cuối cùng của dân cư tăng 5,12%, cao hơn mức tăng 5,02% của cùng kỳ năm trước); tích lũy tài sản tăng 4,84%, đóng góp 1,46 điểm phần trăm.

 

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

9 tháng các năm 2012, 2013 và 2014

 

 

           Tốc độ tăng so với

cùng kỳ năm trước (%)

Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng 9 tháng 
năm 2014 
(Điểm phần trăm)

 

9 tháng năm 2012

9 tháng 
năm 2013

9 tháng     năm 2014

Tổng số

5,10

5,14

5,62

5,62

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

2,50

2,39

3,00

0,54

Công nghiệp và xây dựng

5,76

5,20

6,42

2,46

Dịch vụ

5,66

6,25

5,99

2,62

 

Tổng sản phẩm trong nước 9 tháng năm 2014

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng năm 2014 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 548,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 395,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4%; lâm nghiệp đạt 18,2 nghìn tỷ đồng, tăng 6,1%; thuỷ sản đạt 134,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,5%.

Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Chín, cả nước gieo cấy được 1778,2 nghìn ha lúa mùa, bằng 102,5% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Các địa phương phía Bắc gieo cấy 1179,4 nghìn ha, bằng 99,5%; các địa phương phía Nam gieo cấy 598,8 nghìn ha, bằng 109,1%. Diện tích gieo cấy lúa mùa của các địa phương phía Bắc giảm nhẹ (-3,9 nghìn ha) do một số địa phương chuyển đổi một phần diện tích sang trồng cây hàng năm khác hiệu quả hơn hoặc xây dựng các công trình hạ tầng trong Chương trình Nông thôn mới (Sơn La giảm 2,5 nghìn ha; Hà Nội, Hưng Yên và Vĩnh Phúc cùng giảm 1 nghìn ha). Hiện nay trà lúa mùa sớm tại các địa phương phía Bắc đang trong giai đoạn vào chắc và chín, ước tính năng suất tăng 2 - 3 tạ/ha so với vụ mùa năm trước; sản lượng đạt 5,8 triệu tấn, tăng 228,7 nghìn tấn (4,1%). Nếu điều kiện thời tiết những tháng cuối năm thuận và ít bị ảnh hưởng của sâu bệnh thì năng suất lúa mùa cả nước năm nay ước tính đạt 48,7 tạ/ha, tăng 1,7 tạ/ha so với vụ mùa năm trước. Do đó mặc dù diện tích gieo trồng đạt 1965 nghìn ha, giảm 21,1 nghìn ha nhưng sản lượng đạt 9,6 triệu tấn, tăng 228,4 nghìn tấn (2,4%).

Cùng với việc gieo cấy lúa mùa, các địa phương trên cả nước đang bước vào thu hoạch lúa hè thu. Tính đến thời điểm 15/9/2014, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1798,6 nghìn ha lúa hè thu, bằng 94,9% cùng kỳ năm trước, chiếm 92,9% diện tích gieo trồng, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1552 nghìn ha, bằng 93%. Do thời tiết thuận lợi nên ước tính năng suất lúa hè thu cả nước đạt 53,4 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với vụ hè thu 2013; sản lượng đạt 11,3 triệu tấn, tăng  53,8 nghìn tấn.

Ước tính diện tích lúa cả năm 2014 đạt 7802,8 nghìn ha, giảm 99,7 nghìn ha so với năm 2013, nhưng do năng suất đạt 57,5 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha nên sản lượng đạt 44,9 triệu tấn, tăng 816 nghìn tấn.

Đến thời điểm 15/9/2014, cả nước đã gieo trồng được 1065,5 nghìn ha ngô, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2013; 129,2 nghìn ha khoai lang, giảm 1,6%; 202,3 nghìn ha lạc, giảm 1,5%; 108,3 nghìn ha đậu tương, giảm 6,1% và 901,4 nghìn ha rau, đậu tăng 4%.

Cây công nghiệp lâu năm phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, sản lượng đạt khá do diện tích đến kỳ cho sản phẩm tăng. Sản lượng cao su 9 tháng ước tính đạt 669,9 nghìn tấn, tăng 1,1% so với năm trước; chè đạt 808,6 nghìn tấn, tăng 4,3%; hồ tiêu 133,5 nghìn tấn, tăng 10,3%; điều 301,9 nghìn tấn, tăng 9,6%. Cây ăn quả cũng cho sản lượng tăng khá: Nho đạt 15,6 nghìn tấn, tăng 4,2%; xoài 612,7 nghìn tấn, tăng 5,1%; cam, quýt 553,3 nghìn tấn, tăng 3,5%.

Chăn nuôi trâu, bò 9 tháng qua nhìn chung ổn định. Tính đến giữa tháng Chín, đàn trâu cả nước giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2013; đàn bò không có nhiều biến động. Riêng đàn bò sữa tiếp tục phát triển khá, tập trung nhiều ở một số địa phương: Hà Nội, Nghệ An, Sơn La, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh và Long An. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 9 tháng giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi tăng 2,1%.

Chăn nuôi lợn có nhiều thuận lợi do dịch tai xanh trên lợn đã được khống chế, giá thịt lợn hơi tăng nên người chăn nuôi phần nào yên tâm sản xuất. Tính đến thời điểm trên, đàn lợn tăng 1,5 - 2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt lợn hơi tăng 2,2%. Xu hướng chăn nuôi lợn đang chuyển dần từ chăn nuôi nhỏ lẻ, cho hiệu quả thấp sang hình thức gia trại và trang trại đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Chăn nuôi gia cầm có xu hướng phát triển tốt do dịch cúm gia cầm được khống chế, giá bán các sản phẩm gia cầm có chiều hướng tăng đã kích thích nhiều hộ chăn nuôi tập trung mở rộng quy mô, tái đàn trở lại. Tổng đàn gia cầm tăng 2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt gia cầm tăng 2,8%.

Tính đến thời điểm 22/9/2014, cả nước không còn địa phương nào có dịch lở mồm long móng và dịch lợn tai xanh chưa qua 21 ngày. Dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày còn ở tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi.

Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp 9 tháng tuy bị ảnh hưởng của thời tiết khô hạn kéo dài, nhất là các tỉnh vùng Trung Bộ nhưng do có mưa sớm nên các địa phương bảo đảm được tiến độ thời vụ. Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước 9 tháng ước tính đạt 168 nghìn ha, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có diện tích rừng trồng mới đạt khá: Tuyên Quang 13,3 nghìn ha; Yên Bái 13,2 nghìn ha; Quảng Ninh 12,8 nghìn ha. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 144,9 triệu cây, giảm 1,2%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 3939 nghìn m3, tăng 7,8%, một số tỉnh có sản lượng gỗ khai thác tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Hòa Bình tăng 45,7%; Hà Tĩnh tăng 41,2%; Thừa Thiên Huế tăng 35,6%; Tuyên Quang tăng 26,3%; Quảng Ngãi tăng 23,4%; Nghệ An tăng 21,8%; Bình Định tăng 18,4%. Sản lượng củi khai thác ước tính đạt 23,2 triệu ste, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước.

Thời tiết những tháng đầu năm diễn biến bất thường, nắng hạn kéo dài gây ra tình trạng cháy rừng ở một vài nơi, đặc biệt là khu vực miền Trung. Tính chung chín tháng, diện tích rừng bị thiệt hại là 3713 ha, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 3063 ha, gấp 3,5 lần; diện tích rừng bị phá 651 ha, tăng 12,6%%. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Yên Bái 692 ha; Bình Định 388 ha; Phú Yên 317 ha; Quảng Trị 235 ha; Lai Châu 211 ha; Nghệ An 175 ha; Đà Nẵng 130 ha.

Thủy sản

Sản lượng thủy sản 9 tháng ước tính đạt 4738,7 nghìn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 3440,5 nghìn tấn, tăng 3,2%; tôm đạt 567,1 nghìn tấn, tăng 14,8%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng 9 tháng ước tính đạt 2495,1 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1799,1 nghìn tấn, tăng 2%; tôm đạt 449,4 nghìn tấn, tăng 18%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng cao do các địa phương tiếp tục chuyển nuôi tôm sú sang tôm thẻ chân trắng để có hiệu quả kinh tế cao hơn. Diện tích tôm sú thu hoạch trong 9 tháng ước tính đạt 525,6 nghìn ha, giảm 7,8% so với cùng kỳ năm 2013; sản lượng đạt 192 nghìn tấn, giảm 3,9%. Diện tích thu hoạch tôm thẻ chân trắng 9 tháng đạt 85 nghìn ha, tăng 68,9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 246,9 nghìn tấn, tăng 44,9%. Một số địa phương có sản lượng tôm thẻ chân trắng tăng mạnh: Sóc Trăng đạt 45 nghìn tấn, tăng 28,7%; Bến Tre 34 nghìn tấn, tăng 52,3%; Cà Mau 29,4 nghìn tấn, tăng 169%; Trà Vinh 17 nghìn tấn, tăng 208,9%; Bạc Liêu 15,4 nghìn tấn, tăng 165,5%. Tại các địa phương, người nuôi tôm được hướng dẫn kỹ thuật thả nuôi, chất lượng con giống được kiểm soát chặt chẽ và nhất là kịp thời xử lý mầm bệnh nên kết quả nuôi tôm đạt khá.

Trong khi nuôi tôm có chiều hướng thuận lợi thì nuôi cá tra vẫn gặp nhiều khó khăn với tình trạng thua lỗ kéo dài, tiêu thụ sụt giảm mạnh nên diện tích thả nuôi ngày càng bị thu hẹp. Nguyên nhân một mặt do các quy định về rào cản kỹ thuật, thuế chống bán phá giá, ép giá; mặt khác do khó khăn kéo dài từ những năm trước làm cho nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng nợ xấu, dẫn đến khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Một số địa phương có diện tích và sản lượng cá tra 9 tháng giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước: Cần Thơ giảm 6,6% về diện tích và giảm 8,5% về sản lượng; Vĩnh Long giảm 14% về diện tích và giảm 13,8% về sản lượng; Trà Vinh giảm 32,3% về diện tích và giảm 38,2% về sản lượng.

Khai thác thủy sản 9 tháng năm nay có thuận lợi về thời tiết, ngư dân tập trung khai thác những sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Được sự hỗ trợ của Nhà nước nên số tàu khai thác hải sản công suất 90 CV trở lên ở các địa phương tăng. Sản lượng thủy sản khai thác 9 tháng năm nay ước tính đạt 2243,6 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển đạt 2104,9 nghìn tấn, tăng 5%. Riêng sản lượng cá ngừ đại dương 9 tháng ước tính đạt 13 nghìn tấn, giảm 3% so với cùng kỳ năm 2013.

Tổng sản lượng thủy sản năm 2014 ước tính đạt 6327,9 nghìn tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó cá đạt 4531,4 nghìn tấn, tăng 3,6%; tôm 812,1 nghìn tấn, tăng 12,3%; thủy sản khác đạt 984,4 nghìn tấn, tăng 6,7%.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Chín ước tính tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 5,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,6%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 6,8%.

Tính chung 9 tháng năm nay, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2013 (Quý I tăng 5,3%, quý II tăng 6,9%, quý III tăng 7,7%), cao hơn mức tăng 5,3% của cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng chung 9 tháng của toàn ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 8,3%, cao hơn nhiều so với mức tăng 6,7% của 9 tháng năm 2013, đóng góp 5,8 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 6,0%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai thác tăng 0,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành sản xuất, một số ngành có chỉ số sản xuất 9 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 35,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 20,7%; sản xuất xe có động cơ tăng 18,9%; dệt tăng 18,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 13,5%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 12,1%; sản xuất trang phục tăng 11,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất kim loại tăng 9,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 8,0%; sản xuất đồ uống tăng 7,7%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 7,0%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thiết bị điện tăng 5,5%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 5,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 4,2%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 3,0%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 0,9%; khai thác than cứng và than non tăng 0,6%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 0,1%; sản xuất thuốc lá giảm 12,3%.

Trong các sản phẩm công nghiệp, một số sản phẩm đạt mức tăng 9 tháng cao so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại di động tăng 47,3%; ô tô tăng 27,5%; sữa tươi tăng 20,9%; giày dép da tăng 19,8%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 16,1%; tivi tăng 15,6%;… Một số sản phẩm tăng khá: Điện sản xuất tăng 12,3%; quần áo mặc thường tăng 9,9%; thủy hải sản chế biến tăng 9,4%; bột giặt và các chế phẩm dùng cho tẩy, rửa tăng 7,8%... Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ: dầu thô giảm 0,5%; bột ngọt giảm 0,9%; sữa bột giảm 6,4%; thuốc lá điếu giảm 12,4%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 8,3%; xe máy giảm 11%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn như sau: Thái Nguyên tăng 135,2% do doanh nghiệp Samsung Electronic đi vào hoạt động ổn định; Hải Phòng tăng 11,7%; Đà Nẵng tăng 11,2%; Hải Dương tăng 9,8%; Bình Dương tăng 8,4%; Cần Thơ tăng 7,9%; Đồng Nai tăng 7,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,8%; Quảng Nam tăng 5%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 4,9%; Hà Nội tăng 4,5%; Quảng Ninh tăng 4,4%; Bắc Ninh giảm 5,6%; Vĩnh Phúc giảm 4,2%; Quảng Ngãi tiếp tục giảm mạnh ở mức 16,6%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Tám năm nay tăng 6,4% so với tháng trước  tăng 10% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng, chỉ số tiêu thụ ngành này tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2013. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 8 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2013: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 32,6%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 23,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 16,6%; sản xuất thiết bị điện tăng 15,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,0%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 8 tháng tăng thấp: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 7,3%; sản xuất trang phục tăng 7,2%; sản xuất đồ uống tăng 6,4%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 6,0%; dệt tăng 5,6%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 5,2%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 5,0%; sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic tăng 4,8%; sản xuất kim loại tăng 4,5%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/9/2014 tăng 11,6% so với cùng thời điểm năm 2013. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm hoặc tăng thấp hơn mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 21,8%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 16,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 8,0%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 0,4%; sản xuất thiết bị điện tăng 6,2%; dệt tăng 6,5%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất kim loại tăng 58,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 44,8%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 41,9%; sản xuất trang phục tăng 39,6%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 36,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 22,5%; sản xuất đồ uống tăng 20,8%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 8 tháng là 76,2%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 157,7%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 122,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm 98,1%; sản xuất kim loại 88,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 87,6%.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2014 tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 4,2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước nhìn chung ổn định; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 5,6%. Tại thời điểm trên, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp khai khoáng giảm 3,6% so với cùng thời điểm năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,8%; sản xuất, phân phối điện tăng 2,6%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,6%.

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn tại thời điểm 01/9/2014 so với cùng thời điểm năm 2013 như sau: Quảng Nam tăng 5,6%; Đồng Nai tăng 4,5%; Hải Phòng tăng 3,8%; Quảng Ninh tăng 3,6%; Bình Dương tăng 3,0%; Cần Thơ tăng 2,2%; Vĩnh Phúc tăng 2,1%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 1,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,8%; Đà Nẵng tăng 1,5%; Quảng Ngãi tăng 0,8%; Bắc Ninh tăng 0,7%. Một số tỉnh có chỉ số sử dụng lao động tăng cao: Thái Nguyên tăng 79,7%; Nghệ An tăng 45,5%; Hậu Giang tăng 25,6%; Lào Cai tăng 21,0%, chủ yếu do một số doanh nghiệp mở rộng sản xuất, hoặc đi vào hoạt động chính thức; hoặc số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tăng lên.

 
tm gia sư dạy km