Tình hình kinh tế- xã hội tháng 02 năm 2014

Cập nhật ngày: 03/04/2014

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

a. Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp tháng Hai tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa và rau màu vụ đông xuân. Tính đến trung tuần tháng Hai, cả nước đã gieo cấy được 2596,3 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 98% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Các địa phương phía Bắc gieo cấy 648,8 nghìn ha, bằng 96%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1947,5 nghìn ha, bằng 98,7%. 

Tại các địa phương phía Bắc, do ảnh hưởng của các đợt rét đậm, rét hại nên tiến độ gieo cấy lúa đông xuân năm nay chậm hơn so với năm trước. Diện tích gieo cấy của vùng Đồng bằng sông Hồng ước tính đạt 205,7 nghìn ha, bằng 78,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có diện tích gieo cấy lúa đông xuân giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2013 là: Hải Dương đạt 42,3 nghìn ha, bằng 83,8%; Hải Phòng đạt 22,6 nghìn ha, bằng 66%; Hà Nội đạt 22,9 nghìn ha, bằng 58,3%.

Các địa phương phía Nam cơ bản kết thúc gieo cấy lúa đông xuân. Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trà lúa chính vụ đang trong giai đoạn đẻ nhánh làm đòng, số ít trong giai đoạn chuẩn bị trỗ. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thời tiết nóng lạnh thất thường nên một số loại sâu bệnh có điều kiện phát triển như: Rầy nâu, đạo ôn, sâu cuốn lá ... Các địa phương trong vùng có nhiều diện tích lúa bị nhiễm bệnh là: An Giang 51,5 nghìn ha; Long An 46,6 nghìn ha; Bạc Liêu 29  nghìn ha; Kiên Giang 19 nghìn ha. Do xuống giống muộn nên tính đến trung tuần tháng Hai, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long mới thu hoạch được 232,1 nghìn ha lúa đông xuân sớm, bằng 82,6% cùng kỳ năm trước.

Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, tính đến thời điểm trên, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 251,6 nghìn ha ngô, bằng 112,6% cùng kỳ năm 2013; 58,2 nghìn ha khoai lang, bằng 90,1%; 389,3 nghìn ha rau đậu, bằng 109,6%. Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, thời tiết rét đậm, rét hại kèm theo băng giá và mưa tuyết, sương muối kéo dài làm hàng nghìn ha rau màu vụ đông hư hỏng nặng, trong đó gần 2 nghìn ha bị mất trắng không có khả năng phục hồi.

Do ảnh hưởng của nhiệt độ xuống quá thấp trong thời gian dài nên có khoảng 2 nghìn con trâu, bò bị chết đói và chết rét, chủ yếu là trâu, bò già và bê, nghé non. Ước tính số lượng trâu tháng Hai của cả nước giảm khoảng 2% so với cùng kỳ năm 2013; số lượng bò giảm khoảng 1% và số lợn giảm nhẹ. Chăn nuôi gia cầm đang gặp khó khăn do dịch cúm gia cầm bùng phát mạnh tại nhiều địa phương. Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm nhận định nguy cơ lây lan trên diện rộng dịch cúm H5N1 là rất cao do thời tiết diễn biến khá phức tạp, làm giảm sức đề kháng của gia cầm. Bên cạnh đó, nguy cơ lây lan cúm H7N9 và H10N8 từ Trung Quốc vào Việt Nam cũng gây cản trở lớn đến hoạt động chăn nuôi gia cầm trong nước. Tính đến 20/02/2014 cả nước có 61 nghìn con gia cầm bị mắc bệnh, số gia cầm tiêu hủy là hơn 84 nghìn con.

Tính đến thời điểm 20/02/2014, cả nước không còn tỉnh nào có dịch lợn tai xanh chưa qua 21 ngày; dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày còn ở 3 tỉnh là: Lạng Sơn; Cao Bằng và Bắc Kạn; dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày còn ở 17 tỉnh: Lào Cai; Nam Định; Thanh Hóa; Nghệ An; Hà Tĩnh; Quảng Bình; Quảng Ngãi; Phú Yên; Khánh Hòa; Kon Tum; Đắk Lắk; Tây Ninh; Bà Rịa -Vũng Tàu; Long An; Vĩnh Long; Cần Thơ và Cà Mau.

b. Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào việc trồng rừng, chăm sóc cây giống và thực hiện các công việc chuẩn bị cho trồng rừng vụ xuân 2014. Trong hai tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung cả nước ước tính đạt 1236 ha, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 32 triệu cây, tăng 0,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 672 nghìn m3, tăng 4,5%; sản lượng củi khai thác đạt 5,1triệu ste, tăng 0,6%.

Thời tiết vào mùa khô hạn nên nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Các địa phương đang tích cực triển khai công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng, hướng dẫn người dân phát nương rẫy đúng quy định. Trong tháng Hai, diện tích rừng bị thiệt hại là 227 ha, trong đó diện tích bị cháy 213 ha; diện tích bị chặt phá 14 ha. Tính chung hai tháng đầu năm, diện tích rừng bị thiệt hại là 243 ha, giảm 23,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích bị cháy là 227 ha; diện tích rừng bị chặt phá là 16 ha. Một số địa phương xảy ra hiện tượng cháy rừng là: Lạng Sơn thiệt hại 60 ha; Lai Châu 26 ha; Thái Nguyên 21 ha…

c. Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Hai ước tính đạt 369,7 nghìn tấn, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 286,8 nghìn tấn, tăng 3,4%; tôm đạt 28,9 nghìn tấn, tăng 6,3%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng Hai ước tính đạt 323,6 nghìn tấn, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 237,9 nghìn tấn, giảm 3,5%; tôm đạt 47,2 nghìn tấn, tăng 4,8%. Nuôi trồng cá tra vẫn gặp khó khăn do giá cá tra nguyên liệu ở mức thấp dẫn đến thị trường tiêu thụ bị ảnh hưởng. Diện tích nuôi cá tra tại một số địa phương bị thu hẹp dẫn tới sản lượng cá tra giảm mạnh, trong đó An Giang đạt 14 nghìn tấn, giảm 6,3% so cùng kỳ năm trước; Cần Thơ 7,5 nghìn tấn, giảm 11,3%; Vĩnh Long 9 nghìn tấn, giảm 3,3%; Bến Tre 5,1 nghìn tấn, giảm 64,7%. Nuôi trồng tôm và các loại thủy sản khác tương đối ổn định. Tình hình nuôi tôm và thủy sản khác khá ốn định. Các địa phương đang tập trung thả nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú nuôi quảng canh cải tiến, đồng thời chuẩn bị ao nuôi để thả giống tôm sú thâm canh vụ mới.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng Hai ước tính đạt 228,9 nghìn tấn, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển đạt 215,3 nghìn tấn, tăng 8,6%. Tính chung hai tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước tính đạt 768,8 nghìn tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm sản lượng nuôi trồng đạt 323,6 nghìn tấn, giảm 0,3%; sản lượng khai thác đạt 445,2 nghìn tấn, tăng 4,3%, trong đó khai thác biển đạt 419,4 nghìn tấn, tăng 4,7%.

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Hai ước tính tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao do số ngày nghỉ Tết Nguyên Đán tháng Hai năm nay ít hơn cùng kỳ năm 2013. Tính chung hai tháng đầu năm nay, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,4%, cao hơn mức tăng 4,4% củacùng kỳ năm trước. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng khá ở mức 7,8% so với cùng kỳ năm 2013, đóng góp 5,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 8,5%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 5,8%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 3%, làm giảm 0,7 điểm phần trăm mức tăng chung.

Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất hai tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Dệt và sản xuất xe có động cơ cùng tăng 21,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 19,2%; sản xuất trang phục tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 10,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,5%. Một số ngành có mức tăng khá là: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 8,1%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 7,9%; sản xuất đồ uống tăng 7,5%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 5,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4,5%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 2,9%; sản xuất thuốc lá tăng 1,7%; sản xuất thiết bị điện giảm 1%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 1,7%; sản xuất kim loại giảm 2%; khai thác than cứng và than non giảm 9,3%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp hai tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 4%; Đồng Nai tăng 7,2%; Bình  Dương tăng 7,3%; Hà Nội tăng 2,8%; Hải Phòng tăng 13,7%; Bắc Ninh tăng 10,6%; Vĩnh Phúc giảm 2,3%; Cần Thơ tăng 3,9%; Hải Dương tăng 6,6%; Đà Nẵng tăng 9,8%; Bà Rịa Vũng Tàu giảm 2%; Quảng Ninh giảm 3,5%; Quảng Nam tăng 12,3%; Quảng Ngãi giảm 0,1%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 01/2014 giảm 2,8% so với tháng trước  tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tháng Một tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Sản xuất thiết bị điện tăng 23,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng18,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 10,7%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 9,6%; sản xuất thuốc lá tăng 8,6%. Một số ngành có chỉ số tiêuthụ tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất trang phục tăng 4,3%; sản xuất đồ uống tăng 2,6%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 1,6%; dệt giảm 5,9%; sản xuất kim loại giảm 20,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 33%.

Tại thời điểm 01/02/2014, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,7% so với cùng thời điểm năm 2013thấp hơn mức tăng 21,5% của cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm là: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 13,2%;sản xuất đồ uống tăng 7,6%; dệt tăng 7,3%; sản xuất trang phục tăng 6,1%; sản xuất thiết bị điện tăng 5,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 3,4%; sản xuất xe có động cơ giảm 35,3%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 104,8%; sản xuất kim loại tăng 87%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 53%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 43,6%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 36,8%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Một là 77%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao là: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu 170,7%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 139,1%; sản xuất kim loại 118,8%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế 102,3%.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/02/2014 tăng 5,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,7% và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 8,2%. Tại thời điểm trên, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp khai khoáng giảm 0,8% so với cùng thời điểm năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,8%; công nghiệp sản xuất, phân phối điện tăng 3,2% và công nghiệp cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 1,8%.

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp tại thời điểm 01/02/2014 so với cùng thời điểm năm trước của các tỉnh, thành phố có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,2%; Đồng Nai tăng 9,4%; Bình Dương tăng 6,6%; Hà Nội giảm 1,1%; Hải Phòng tăng 2,6%; Bắc Ninh tăng 20,7%; Vĩnh Phúc tăng 7,7%; Cần Thơ tăng 1,9%; Hải Dương tăng 13,6%; Đà Nẵng tăng 7%; Bà Rịa Vũng Tàu tăng 11,6%; Quảng Ninh tăng 3,2%; Quảng Nam tăng 0,6%; Quảng Ngãi tăng 4,2%.

Nhìn chung, sản xuất công nghiệp hai tháng đầu năm chưa có nhiều dấu hiệu tích cực và tiếp tục gặp khó khăn, một phần do mức cầu, nhất là cầu trong nước vẫn ở mức thấp. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tuy giảm nhiều so với mức tăng của cùng thời điểm năm trước nhưng còn ở mức cao.

3. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Hai ước tính đạt 9234 tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 1669 tỷ đồng; vốn địa phương 7565 tỷ đồng. Tính chung hai tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 20859 tỷ đồng, bằng 11,6% kế hoạch năm và giảm 1,2% so với cùng kỳ năm 2013, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 4015 tỷ đồng, bằng 10,2% kế hoạch năm và giảm 1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải là 627 tỷ đồng, bằng 13,8% và giảm 6,3%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 324 tỷ đồng, bằng 9,3% và tăng 2,1%; Bộ Xây dựng 169 tỷ đồng, bằng 8,3% và tăng 5,6%; Bộ Y tế 79 tỷ đồng, bằng 9,8% và tăng 1,3%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 73 tỷ đồng, bằng 9,9% và giảm 2%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 67 tỷ đồng, bằng 10,6% và giảm 5%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 50 tỷ đồng, bằng 10,9% và giảm 2,9%; Bộ Công Thương 30 tỷ đồng, bằng10,2% và giảm 1,6%; Bộ Khoa học và Công nghệ 29 tỷ đồng, bằng 10,3% và giảm 4,9%; Bộ Thông tin và Truyền thông 22 tỷ đồng, bằng 10,4% và giảm 18,9%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 16844 tỷ đồng, bằng 12% kế hoạch năm và giảm 1,2% so với cùng kỳ năm 2013Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 11986 tỷ đồng, bằng 11,6% và tăng 1,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 3755 tỷ đồng, bằng 12,2% và giảm 9,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 1103 tỷ đồng, bằng 16,8% và tăng 1,2%. 

 

 
tm gia sư dạy km