Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2014

Cập nhật ngày: 03/04/2014

Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2014

Bước sang năm 2014, kinh tế thế giới phát triển theo hướng đẩy nhanh tăng trưởng toàn cầu tại các nền kinh tế lớn với hàng loạt các biện pháp mạnh được thực thi. Trong khi đó, nhiều nền kinh tế mới nổi thực hiện chính sách thắt chặt thông qua việc tăng lãi suất nhằm giảm áp lực tiền tệ, vì vậy tăng trưởng kinh tế tại khu vực này đang gặp trở ngại. Kinh tế - xã hội nước ta trước bối cảnh thế giới vừa có những thuận lợi, nhưng cũng không ít rủi ro, thách thức, còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp và diễn biến khó lường. Khó khăn trong sản xuất kinh doanh chưa được giải quyết triệt để, những yếu kém nội tại của nền kinh tế chậm được khắc phục. Trước tình hình đó, Chính phủ xác định mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 là: “Tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; tăng trưởng hợp lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng chống tham nhũng, lãnh phí; cải thiện môi trường kinh doanh. Bảo đảm quốc phòng và an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế”.

Để thực hiện tốt mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của năm 2014, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo điều hành, trọng tâm làNghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014. Ngay từ đầu năm, Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ tập trung chỉ đạo quyết liệt các ngành, các cấp và địa phương triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp nhằm sớm khắc phục những hạn chế, vượt qua thách thức để ổn định vĩ mô, tạo tăng trưởng bền vững, bảo đảm đời sống dân cư. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong ba tháng đầu năm như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2014 ước tính tăng 4,96% so với cùng kỳ năm 2013, cao hơn mức tăng cùng kỳ của 3 năm trở lại đây. Trong toàn nền kinh tế, cả ba khu vực đều đạt mức tăng cao hơn mức tăng cùng kỳ năm trước: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,37% (quý I/2013 tăng 2,24%), đóng góp 0,32 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,69% (quý I/2013 tăng 4,61%), đóng góp 1,88 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,95% (quý I/2013 tăng 5,65%), đóng góp 2,76 điểm phần trăm.

Số liệu trên cho thấy khu vực dịch vụ tiếp tục đóng góp nhiều nhất vào mức tăng trưởng chung. Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực dịch vụ có mức tăng khá so với cùng kỳ năm 2013 là: Bán buôn và bán lẻ tăng 5,61%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,58%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,91%.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, tuy mức tăng của cả khu vực không cao, ở mức 4,69% so với cùng kỳ năm 2013 nhưng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng khá với 7,3%, cao hơn nhiều mức tăng cùng kỳ một số năm trước, góp phần tác động lớn đến mức tăng trưởng chung. Ngành xây dựng tăng 3,4%, thấp hơn mức tăng 4,79% của quý I/2013.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp tuy tăng thấp nhất ở mức 1,91% nhưng đóng góp 1,41 điểm phần trăm trong mức tăng 2,37% của toàn khu vực do quy mô nông nghiệp hiện vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với khoảng 73% trong khu vực; thủy sản tăng 3,58%, đóng góp 0,67 điểm phần trăm; lâm nghiệp tăng 4,64%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12,88%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 40,32%; khu vực dịch vụ chiếm 46,8% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2013 là: 13,27%; 40,17%; 46,56%).

Xét về góc độ sử dụng GDP của quý I năm nay, tiêu dùng cuối cùng tăng 5,06% so với cùng kỳ năm 2013 và đóng góp 4,04 điểm phần trăm vào mức tăng chung, trong đó tiêu dùng cuối cùng của dân cư tăng 4,92%, cao hơn mức tăng cùng kỳ một số năm gần đây; tích lũy tài sản tăng 3,24%, đóng góp 0,62 điểm phần trăm; chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đóng góp 0,3 điểm phần trăm do xuất siêu. Độ mở của nền kinh tế quý I tăng nhanh trong 5 năm trở lại đây, từ mức 155,6% của quý I/2010 tăng lên 194,3% trong quý I/2014

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

quý I các năm 2012, 2013 và 2014

Tốc độ tăng so với

quý I năm trước (%)

Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng quý I 
năm 2014 
(Điểm phần trăm)

Quý I năm 2012

Quý I năm 2013

Quý I năm 2014

Tổng số

4,75

4,76

4,96

4,96

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

2,81

2,24

2,37

0,32

Công nghiệp và xây dựng

5,15

4,61

4,69

1,88

Dịch vụ

4,99

5,65

5,95

2,76

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quý I năm 2014 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 165 nghìn tỷ đồng, tăng 2,43% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 126,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,01%; lâm nghiệp đạt 5,7 nghìn tỷ đồng, tăng 4,8%; thủy sản đạt 32,6 nghìn tỷ đồng, tăng 3,71%.

a. Nông nghiệp

Tính đến ngày 15 tháng Ba, cả nước đã gieo cấy được 3062,3 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1112,7 nghìn ha, bằng 100,1%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1949,7 nghìn ha, bằng 98,4%, nguyên nhân một mặt do ảnh hưởng của thời tiết hạn hán, mặt khác do giá lúa thấp nên một số địa phương chuyển đổi diện tích lúa sang cây trồng khác cho giá trị cao hơn. Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa giảm 400 - 500 đồng/kg từ đầu tháng Ba. Để hỗ trợ nông dân, ngày 15 tháng 3 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 373a/QĐ-TTg về mua tạm trữ thóc, gạo vụ Đông Xuân 2013-2014.

Tính đến trung tuần tháng Ba, các địa phương phía Nam đã thu hoạch 725,3 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 64,6% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long bước vào thu hoạch rộ, đạt trên 702 nghìn ha, chiếm 45% diện tích xuống giống và bằng 64,4% cùng kỳ năm 2013. Một số địa phương có tiến độ thu hoạch lúa đông xuân nhanh là: Tiền Giang hơn 77 nghìn ha, đạt 100% diện tích gieo cấy; Vĩnh Long 55 nghìn ha, đạt 89%; Sóc Trăng 105 nghìn ha, đạt 75%; Cần Thơ 59 nghìn ha, đạt 67,4%. Ước tính sơ bộ, năng suất lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 69,2 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với vụ đông xuân 2013, sản lượng đạt 10,8 triệu tấn, tăng 126 nghìn tấn.

Gieo trồng các loại rau, màu cũng được được đẩy nhanh tiến độ. Tính đến giữa tháng Ba, cả nước đã gieo trồng được 350 nghìn ha ngô, bằng 102,8% cùng kỳ năm trước; 78,9 nghìn ha khoai lang, bằng 98,7%; 126,6 nghìn ha lạc, bằng 93%; 51,3 nghìn ha đỗ tương, bằng 94,4%; 486,4 nghìn ha rau đậu, bằng 108,3%.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong ba tháng đầu năm chịu ảnh hưởng của thời tiết rét đậm, rét hại. Theo báo cáo sơ bộ, có hơn 2 nghìn con trâu, bò bị chết do rét. Ước tính đàn trâu cả nước 3 tháng đầu năm giảm khoảng 1,5% - 2% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò giảm khoảng 1% - 1,5%; sản lượng thịt trâu, bò hơi xuất chuồng giảm 1% - 1,5%. Đàn lợn ước tính tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước do dịch lợn tai xanh được khống chế và giá thịt lợn có dấu hiệu tăng trở lại. Ước tính sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 3 tháng tăng 1% - 1,2% so với cùng kỳ năm 2013. Dịch cúm gia cầm bùng phát làm ảnh hưởng đến kết quả chăn nuôi gia cầm tại nhiều địa phương. Từ đầu năm, cả nước có 32 tỉnh, thành phố xuất hiện dịch cúm gia cầm với tổng số gia cầm mắc bệnh, chết là hơn 140 nghìn con, tiêu hủy trên 160 nghìn con. Ước tính tổng số gia cầm ba tháng đầu năm giảm khoảng 1% so với cùng kỳ năm 2013.

Tính đến ngày 21/3/2014, dịch lợn tai xanh đã được khống chế; dịch bệnh khác chưa qua 21 ngày còn ở các địa phương là: Dịch lở mồm long móng ở Quảng Trị và Sơn La; dịch cúm gia cầm còn ở các tỉnh, thành phố: Hà Giang, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Nam, Khánh Hòa, Bình Thuận, Gia Lai, Đồng Nai, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau.

b. Lâm nghiệp

Hoạt động lâm nghiệp những tháng đầu năm có nhiều thuận lợi về thời tiết và thị trường tiêu thụ lâm sản. Tổng diện tích rừng trồng tập trung 3 tháng ước tính đạt 11,5 nghìn ha, tăng 36,9% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có diện tích trồng rừng nhiều là: Quảng Ngãi 2445 ha; Nghệ An 2400 ha; Quảng Ninh 2230 ha; Quảng Nam 1100 ha; Yên Bái 1036 ha; Phú Thọ 944 ha. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 64,2 triệu cây, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2013; sản lượng gỗ khai thác đạt 1190 nghìn m3, tăng 5,2%; sản lượng củi khai thác đạt 7,6 triệu ste, tăng 2,7%.

Thời tiết đang mùa khô hạn nên nhiều vùng có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Tính đến trung tuần tháng Ba, diện tích rừng bị thiệt hại ước tính 600 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy là 508 ha, tăng 25,8% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng bị phá là 92 ha tăng 64,8%. Một số tỉnh có nhiều diện tích rừng bị cháy là: Lạng Sơn 67 ha; Yên Bái 64 ha; Bình Thuận 48 ha; Sơn La 44 ha. Theo thông tin cảnh báo cháy rừng ngày 20/3/2014 từ Cục Kiểm lâm, trên địa bàn cả nước có 22 tỉnh có khu vực nguy cơ cháy rừng cấp V - cấp cực kỳ nguy hiểm. Trước nguy cơ tiềm ẩn cháy rừng cao ở nhiều địa phương, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2014 về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng.

c. Thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản 3 tháng đầu năm ước tính đạt 1185,2 nghìn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 870,8 nghìn tấn, tăng 1,6%; tôm đạt 118,2 nghìn tấn, tăng 8,6%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 3 tháng ước tính đạt 497,9 nghìn tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó cá đạt 346,8 nghìn tấn, giảm 4%; tôm đạt 87,5 nghìn tấn, tăng 10,1%. Do sản xuất cá tra thua lỗ kéo dài trong thời gian qua nên diện tích và sản lượng những tháng đầu năm nay giảm so với cùng kỳ năm trước. Một số tỉnh có sản lượng cá tra 3 tháng đầu năm giảm nhiều là: An Giang đạt 45 nghìn tấn, giảm 6,3%. Vĩnh Long đạt 26,1 nghìn tấn, giảm 7%; Bến Tre đạt 24 nghìn tấn, giảm 46%; Cần Thơ đạt 20,4 nghìn tấn, giảm 24%. Tình hình nuôi trồng cá tra hiện nay có xu hướng khả quan hơn do giá cá tra nguyên liệu tăng và ngân hàng giảm lãi suất, tạo điều kiện cho các hộ đầu tư thả nuôi cá tra trở lại.

Nuôi tôm tại các địa phương phát triển theo hướng giảm diện tích nuôi tôm sú và tăng nhanh diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng. Đây là loại tôm cho năng suất cao, ít dịch bệnh, có thể nuôi từ 2 đến 3 vụ một năm và có thị trường xuất khẩu ổn định. Một số tỉnh có diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng 3 tháng tăng nhiều so với cùng kỳ năm 2013 là: Sóc Trăng 6113 ha, tăng 167%; Cà Mau 3704 ha, gấp 5 lần; Trà Vinh 1828 ha, gấp 4 lần; Bạc Liêu 1573 ha, tăng 118%; Long An 1338 ha, tăng 65%. Tuy nhiên, hiện nay việc mở rộng nhanh diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng vẫn theo cách tự phát, chưa có quy hoạch và thiếu sự quản lý cũng như đầu tư về thủy lợi, cùng với nguồn giống, thức ăn chưa được kiểm soát gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường sinh trưởng của tôm. Do đó các địa phương cần xây dựng kế hoạch cụ thể, tăng cường tập huấn, tuyên truyền cho người nuôi thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm đạt hiệu quả cao.

Sản lượng thủy sản khai thác 3 tháng ước tính đạt 687,3 nghìn tấn, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 524 nghìn tấn, tăng 5,6%; tôm đạt 30,7 nghìn tấn, tăng 4,8 %. Khai thác thủy sản biển 3 tháng đạt 648,9 nghìn tấn, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2013. Sản lượng thuỷ sản khai thác trong kỳ đạt khá chủ yếu do thời tiết tương đối thuận lợi cho các chủ tàu, thuyền ra khơi đánh bắt. Một số địa phương có sản lượng khai thác biển đạt khá là: Kiên Giang 112 nghìn tấn, tăng 13% cùng kỳ năm trước; Ninh Thuận đạt 37,8 nghìn tấn, gấp 3 lần; Sóc Trăng 13 nghìn tấn, tăng 7,2%. Khai thác cá ngừ đại dương vẫn tiếp tục giảm do mùa khai thác trước bị thua lỗ nhiều, ngư dân chuyển sang làm nghề khác: Phú Yên đạt 1226 tấn, giảm 40,3%; Bình Định đạt 1700 tấn, giảm 40,4%, Khánh Hòa đạt 502 tấn, giảm 3,5%.

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Ba ước tính tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,2%, cao hơn mức tăng 5% của cùng kỳ năm trước. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng khá ở mức 7,3%, cao hơn nhiều mức tăng 5,3% của quý I/2013 và đóng góp 5,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 9,2%, cao hơn mức tăng 7,3% của cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 5,7%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 2,9%, làm giảm 0,6 điểm phần trăm của mức tăng chung.

Trong ngành công nghiệp cấp 2, một số ngành có chỉ số sản xuất 3 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Dệt tăng 20,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 19,4%; sản xuất trang phục tăng 14%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 12,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 12,3%. Một số ngành có mức tăng khá là: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 9,8%; sản xuất đồ uống tăng 9,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,2%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 8,7%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 3,9%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 3,4%; sản xuất thuốc lá giảm 0,9%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 1,6%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 1,7%; sản xuất kim loại giảm 2,4%; khai thác than cứng và than non giảm 8,9%.

Trong các sản phẩm công nghiệp, một số sản phẩm có chỉ số sản xuất 3 tháng tăng cao so với cùng kỳ là: Giày, dép da tăng 32,8%; sữa tắm, sữa rửa mặt tăng 28,2%; thép cán tăng 19%; vải dệt từ sợi thiên nhiên tăng 17,8%; ti vi tăng 17,6%; quần áo thường tăng 13,8%; thủy hải sản chế biến tăng 13,5%; sữa bột tăng 11,8%; phân ure tăng 10,9%; điện sản xuất tăng 9,2%... Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm là: Xi măng tăng 0,7%; gạch xây bằng đất nung tăng 0,9%; sữa tươi tăng 1,1%; vải dệt từ sợi tổng hợp giảm 3%; phân NPK giảm 5,1%; thức ăn cho thủy sản giảm 6,1%; than sạch giảm 9,0%; điện thoại di động giảm 10,9%; sắt, thép thô giảm 22,5%...

Chỉ số sản xuất công nghiệp 3 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm 2013 của một số địa phương như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 4,6%; Đồng Nai tăng 7,1%; Bình Dương tăng 6,5%; Hà Nội tăng 3,6%; Hải Phòng tăng 11,3%; Bắc Ninh tăng 4,8%; Vĩnh Phúc tăng 0,2%; Cần Thơ tăng 5%; Hải Dương tăng 6,4%; Đà Nẵng tăng 10,5%; Bà Rịa Vũng Tàu giảm 1,7%; Quảng Ninh giảm 3,5%; Quảng Nam tăng 8,9%; Quảng Ngãi giảm 1,9%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02/2014 giảm 0,9% so với tháng trước  tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành này tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 2 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2013 là: Sản xuất thiết bị điện tăng 29,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 19,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 16,6%; sản xuất trang phục tăng 13,5%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá là: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 10,5%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 8,5%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 8%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất thuốc lá tăng 7,6%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 7,4%; sản xuất đồ uống tăng 5,9%; dệt tăng 4,8%; sản xuất kim loại giảm 9%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 14,7%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục có mức tăng giảm dần. Tại thời điểm 01/3/2014, chỉ số tồn kho tăng 13,4% so với cùng thời điểm năm 2013, thấp hơn mức tăng cùng thời điểm một số năm trước, trong đó những ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm là: Sản xuất trang phục tăng 9,6%; sản xuất thiết bị điện tăng 5,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 3,3%; sản xuất đồ uống tăng 3%; dệt tăng 2,9%; sản xuất xe có động cơ giảm 28,7%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung là: Sản xuất kim loại tăng 126,8%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 61,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 59,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 54,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 53,6%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 2 tháng đầu năm là 84,4%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao là: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu 181,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 152,9%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế 122,6%; sản xuất kim loại 122,4%.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/03/2014 tăng 4,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 3,8% và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 6,4%. Tại thời điểm trên, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp khai khoáng giảm 1,8% so với cùng thời điểm năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,6%; công nghiệp sản xuất, phân phối điện và công nghiệp cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải cùng tăng 2,9%.

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp tại thời điểm 01/02/2014 so với cùng thời điểm năm trước của các tỉnh, thành phố có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,3%; Đồng Nai tăng 2,9%; Bình Dương tăng 3,9%; Hà Nội giảm 0,1%; Hải Phòng tăng 3,6%; Bắc Ninh tăng 18,5% (do công ty Samsung Electronic mở rộng sản xuất kinh doanh); Vĩnh Phúc tăng 4,9%; Cần Thơ tăng 0,9%; Hải Dương tăng 7,8%; Đà Nẵng tăng 5,3%; Bà Rịa- Vũng Tàu tăng 4,9%; Quảng Ninh tăng 1,9%; Quảng Nam tăng 1,8%; Quảng Ngãi tăng 4,1%.


 
tm gia sư dạy km