Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2014

Cập nhật ngày: 29/08/2014

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản                  

 Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa mùa và thu hoạch lúa hè thu. Tính đến thời điểm 15/8/2014, cả nước đã gieo cấy được 1446,5 nghìn ha lúa mùa, bằng 98,6% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đã kết thúc gieo cấy với diện tích đạt 1179,1 nghìn ha, bằng cùng kỳ năm trước; các địa phương phía Nam gieo cấy 267,4 nghìn ha, bằng 92,7%.

Cùng với việc gieo cấy lúa mùa, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1116,7 nghìn ha lúa hè thu, bằng 94,9% cùng kỳ năm 2013, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 1051,7 nghìn ha, chiếm 62,3% diện tích gieo cấy và bằng 96,1%. Theo báo cáo sơ bộ, sản lượng lúa hè thu năm nay của cả nước ước tính đạt 11,3 triệu tấn, tăng hơn 90 nghìn tấn so với vụ hè thu năm trước, năng suất ước tính đạt 53,3 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha.

Gieo trồng các loại cây hoa màu nhìn chung bảo đảm tiến độ. Tính đến giữa tháng Tám, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 992,5 nghìn ha ngô, bằng 103,1% cùng kỳ năm 2013; 127,4 nghìn ha khoai lang, bằng 102,5%; 96,1 nghìn ha đậu tương, bằng 87,8%; 186,1 nghìn ha lạc, bằng 94,9%; 894,7 nghìn ha rau, đậu, bằng 108,7%.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong tháng nhìn chung ổn định. Tổng đàn trâu cả nước ước tính giảm 1% so với cùng kỳ năm 2013; đàn bò tăng từ 0,5% - 1%. Chăn nuôi lợn có xu hướng thuận lợi, giá bán lợn hơi tăng, dịch lợn tai xanh được khống chế tạo tâm lý tốt cho người nuôi, ước tính tổng đàn lợn cả nước tăng từ 1% - 1,5% so với cùng kỳ năm 2013. Tổng đàn gia cầm cả nước trong tháng ước tính tăng khoảng 1% - 2% so với cùng kỳ  năm trước.

Tính đến thời điểm 20/8/2014 cả nước không còn địa phương nào có dịch cúm gia cầm và dịch lợn tai xanh chưa qua 21 ngày. Dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày còn ở tỉnh Nghệ An.

Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 8 năm 2014

Lâm nghiệp

Trong tháng Tám, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 15,4 nghìn ha, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 8 triệu cây, giảm 2,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 622 nghìn m3, tăng 6,1%. Tính chung 8 tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 120,6 nghìn ha, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2013; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 134,5 triệu cây, giảm 1,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 3656 nghìn m3, tăng 7,8%.

Do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài, nhất là ở các tỉnh miền Trung nên xảy ra cháy rừng tại một số địa phương. Trong tháng Tám có 448 ha rừng bị thiệt hại, trong đó chủ yếu là diện tích rừng bị cháy với 440 ha. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy: Bình Định 251 ha; Phú Yên 99 ha; Quảng Trị 42 ha; Thanh Hóa 23 ha. Tính chung 8 tháng, cả nước có 3014 ha rừng bị thiệt hại, tăng 113% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 2504 ha, tăng 188,3%; diện tích rừng bị chặt, phá là 510 ha, giảm 6,7%.

Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Tám ước tính đạt 544,2 nghìn tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá 368,4 nghìn tấn, tăng 0,6%; tôm đạt 77,9 nghìn tấn, tăng 8,5%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng Tám ước tính đạt 300,3 nghìn tấn, tăng 1,09% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó cá 205,4 nghìn tấn, giảm 1%; tôm 60,2 nghìn tấn, tăng 10%. Nuôi tôm tại các địa phương tiếp tục theo xu hướng chuyển dịch từ tôm sú sang tôm thẻ chân trắng. Nuôi cá tra vẫn trong tình trạng khó khăn do giá cá tra không ổn định và có xu hướng giảm. Một số tỉnh có sản lượng cá tra giảm mạnh: An Giang đạt 21,1 nghìn tấn, giảm 7,0%; Cần Thơ 17,1 nghìn tấn, giảm 6,0%; Bến Tre 10,2 nghìn tấn, giảm 22,9%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng Tám ước tính đạt 243,9 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển đạt 223,8 nghìn tấn, tăng 3,1%. Tính chung 8 tháng, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 4006,6 nghìn tấn, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 2118,3 nghìn tấn, tăng 3,1%; sản lượng khai thác đạt 1888,3 nghìn tấn, tăng 4,9%.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tám ước tính tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 0,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,0%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm nay ước tính tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2013. Trong mức tăng chung 8 tháng của toàn ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 8,1%, đóng góp 5,6 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 6,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai thác tiếp tục giảm ở mức 0,8%, làm giảm 0,2 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành sản xuất, một số ngành có chỉ số sản xuất 8 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 34,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 20,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 20,2%; dệt tăng 17,0%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 13,8%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 13,1%; sản xuất trang phục tăng 11,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất kim loại tăng 9,4%; sản xuất đồ uống tăng 8,1%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 5,0%; sản xuất thiết bị điện tăng 3,9%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 3,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 2,9%; khai thác than cứng và than non giảm 0,3%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 1,0%; sản xuất thuốc lá giảm 11,1%...

Trong các sản phẩm sản xuất, một số sản phẩm đạt mức tăng 8 tháng cao so với cùng kỳ năm 2013: Điện thoại di động tăng 40,4%; ô tô tăng 27,9%; thép cán tăng 22,8%; tivi tăng 20,1%; giày dép da tăng 17,6%; sữa tươi tăng 16,9%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 15,6%. Một số sản phẩm tăng khá: Điện tăng 11,7%; thủy sản chế biến tăng 10,7%; bột giặt và các chế phẩm dùng cho tẩy, rửa tăng 10,4%... Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ: Xe máy giảm 11,7%; thuốc lá điếu giảm 11,2%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 7,7%; sữa bột giảm 3,8%; than đá giảm 3,0%; bột ngọt giảm 1,5%; dầu thô giảm 0,8% (đạt 10,1 triệu tấn, xấp xỉ 70% kế hoạch năm của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam); phân hỗn hợp (N,P,K) giảm 0,6%; sắt, thép thô giảm 0,1%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 11,5%; Đà Nẵng tăng 10,9%; Hải Dương tăng 9,7%; Bình Dương tăng 8,1%; Cần Thơ tăng 7,7%; Đồng Nai tăng 7,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,5%; Quảng Nam tăng 5,1%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 4,9%; Hà Nội tăng 4,5%; Quảng Ninh tăng 3,8%; Vĩnh Phúc giảm 3,6%; Bắc Ninh giảm 4,4%; Quảng Ngãi giảm mạnh ở mức 19,0%, chủ yếu do Nhà máy lọc dầu Dung Quất tập trung bảo dưỡng định kỳ.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Bảy năm nay tăng 2,7% so với tháng trước  tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng, chỉ số tiêu thụ ngành này tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2013. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 7 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2013: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 33,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 22,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 17%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,9%; sản xuất thiết bị điện tăng 14,9%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 7 tháng tăng thấp: Sản xuất trang phục tăng 7,1%; sản xuất đồ uống tăng 6,4%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 6,0%; dệt tăng 5,2%; sản xuất kim loại tăng 4,8%; sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic tăng 4,7%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 3,8%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 3,6%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/8/2014, tăng 13,4% so với cùng thời điểm năm 2013. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất đồ uống tăng 13,3%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,4%; dệt tăng 3,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 1,9%; sản xuất thiết bị điện giảm 1,9%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 4,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 12,8%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 54,1%; sản xuất trang phục tăng 46,1%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 42,6%; sản xuất kim loại tăng 36,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 33,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 30,4%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 7 tháng là 77,3%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 158,9%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 125,0%; sản xuất, chế biến thực phẩm 99,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 87,2%; sản xuất kim loại 89,2%.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8/2014 tăng 4,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,5%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 5,6%. Tại thời điểm trên, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp khai khoáng giảm 4,1% so với cùng thời điểm năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,7%; sản xuất, phân phối điện tăng 2,3%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 4%.

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn tại thời điểm 01/8/2014 so với cùng thời điểm năm trước như sau: Vĩnh Phúc tăng 7,0%; Bắc Ninh tăng 6,3%; Quảng Nam tăng 4,9%; Đồng Nai tăng 4,9%; Bình Dương tăng 3,6%; Cần Thơ tăng 3,4%; Hải Phòng tăng 3,3%; Quảng Ninh tăng 2,7%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 2,5%; Đà Nẵng tăng 2,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,0%; Quảng Ngãi giảm 1,6%; Hải Dương giảm 1,7%.

Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Trong tháng 8, số doanh nghiệp thành lập mới của cả nước là 5052 doanh nghiệp với số vốn đăng ký 27,3 nghìn tỷ đồng, giảm 0,6% về số doanh nghiệp và giảm 13,2% về số vốn đăng ký so với tháng trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp là 5,4 tỷ đồng, giảm 13% so với tháng trước. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng Tám theo đăng ký là 79,4 nghìn lao động, giảm 9,8% so với tháng trước. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký của cả nước là 6681 doanh nghiệp, tăng 35,5% so với tháng trước, bao gồm: 755 doanh nghiệp giải thể; 1050 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn; 4876 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Mặc dù số doanh nghiệp và số vốn đăng ký mới giảm so với tháng trước nhưng bức tranh chung về tình hình doanh nghiệp trong tháng cho thấy dấu hiệu tích cực khi số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động trên cả nước là 1496 doanh nghiệp, tăng 35,2% so với tháng trước.

Tính chung 8 tháng, cả nước có 47,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 289,8 nghìn tỷ đồng, giảm 9,5% về số doanh nghiệp và tăng 14,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp là 6,1 tỷ đồng, tăng 26,2% so với cùng kỳ năm 2013. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong 8 tháng là 708,5 nghìn lao động, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký trong 8 tháng của cả nước là 44,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: 6,4 nghìn doanh nghiệp giải thể; 7,6 nghìn doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn; 30,5 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Tổng vốn đăng ký của các doanh nghiệp gặp khó khăn là 339,2 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Vốn đăng ký của các doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục giải thể là 49,3 nghìn tỷ đồng; vốn đăng ký của các doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc ngừng hoạt động mà không đăng ký là 289,9 nghìn tỷ đồng (Số vốn đăng ký của các doanh nghiệp thực sự khó khăn nhưng chưa hoàn thành thủ tục giải thể). Đồng thời, trong 8 tháng, tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm là 658,5 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Vốn đăng ký của các doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 289,8 nghìn tỷ đồng; vốn đăng ký bổ sung của các doanh nghiệp là 368,7 nghìn tỷ đồng. Trong 8 tháng, cả nước có 10,9 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2013.

Về tình hình đăng ký doanh nghiệp theo ngành hoạt động trong 8 tháng, một số ngành có tín hiệu tích cực thể hiện qua số doanh nghiệp thành lập mới tăng và số doanh nghiệp gặp khó khăn giảm: Ngành sản xuất phân phối, điện, nước, gas tăng 12,4% về số doanh nghiệp thành lập mới và giảm 27,9% về số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động; hoạt động dịch vụ khác tăng 3,6% và giảm 15,9%. Một số ngành thể hiện sự tái cơ cấu mạnh qua số liệu doanh nghiệp giải thể, rút khỏi thị trường: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 46,5% về số doanh nghiệp thành lập mới và tăng 26,2% về số doanh nghiệp dừng hoạt động; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 23,9% và tăng 6,3%; kinh doanh bất động sản tăng 21,5% và tăng 11,2%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 18,8% và tăng 30,9%; thông tin và truyền thông tăng 7,9% và tăng 30,9%. Một số ngành vẫn gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh: Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy giảm 18,4% về số doanh nghiệp thành lập mới và tăng 15,8% về số doanh nghiệp dừng hoạt động; dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác giảm 13,7% và tăng 5,4%; xây dựng giảm 12,1% và tăng 12,9%.

Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Tám ước tính đạt 19610 tỷ đồng, bằng 10,6% kế hoạch năm và tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn trung ương 4314 tỷ đồng, bằng 10,9% và tăng 2,6%; vốn địa phương 15296 tỷ đồng, bằng 10,5% và tăng 3,2%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 8 tháng năm nay đạt 129046 tỷ đồng, bằng 69,7% kế hoạch năm và tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm:

- Vốn trung ương quản lý đạt 29231 tỷ đồng, bằng 74,0% kế hoạch năm và tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải là 4181 tỷ đồng, bằng 92,3% và giảm 8,2%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2327 tỷ đồng, bằng 67,0% và giảm 5,2%; Bộ Xây dựng 1372 tỷ đồng, bằng 67,4% và tăng 4,6%; Bộ Y tế 602 tỷ đồng, bằng 74,8% và tăng 5,8%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 461 tỷ đồng, bằng 62,5% và tăng 5,5%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 385 tỷ đồng, bằng 61,6% và tăng 0,8%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 322 tỷ đồng, bằng 71,0% và tăng 1,1%; Bộ Công Thương 221 tỷ đồng, bằng 74,9% và tăng 8,3%; Bộ Khoa học và Công nghệ 184 tỷ đồng, bằng 65,6% và giảm 5,6%; Bộ Thông tin và Truyền thông 163 tỷ đồng, bằng 78,5% và giảm 4,1%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 99815 tỷ đồng, bằng 68,5% kế hoạch năm và tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 68756 tỷ đồng, bằng 66,0% và tăng 1,7%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 25074 tỷ đồng, bằng 73,3% và tăng 3,7%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 5985 tỷ đồng, bằng 81,1% và giảm 1,0%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 14683 tỷ đồng, bằng 62,7% kế hoạch năm và giảm 0,9% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 10084 tỷ đồng, bằng 69,5% và tăng 0,5%; Đà Nẵng 3094 tỷ đồng, bằng 72,0% và tăng 1,2%; Nghệ An 2558 tỷ đồng, bằng 106,4% và tăng 8,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu 2495 tỷ đồng, bằng 55,5% và tăng 14,1%; Thanh Hóa 2422 tỷ đồng, bằng 80,4% và tăng 3,5%; Vĩnh Phúc 2406 tỷ đồng, bằng 67,8% và giảm 8,4%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/8/2014 thu hút 992 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 7246,2 triệu USD, tăng 29,0% về số dự án và giảm 2,1% về số vốn so với cùng kỳ năm 2013. Đồng thời có 349 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp vốn bổ sung với 2985,9 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 10232,1 triệu USD, giảm 19,0% so với cùng kỳ năm 2013. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 8 tháng năm nay ước tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 8 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký đạt 7000,8 triệu USD, chiếm 68,4% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 1154,3 triệu USD, chiếm 11,3%; ngành xây dựng đạt 552,9 triệu USD, chiếm 5,4%; các ngành còn lại đạt 1524,1 triệu USD, chiếm 14,9%.

Cả nước có 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 8 tháng, trong đó Bắc Ninh tiếp tục dẫn đầu với số vốn đăng ký đạt 1263,0 triệu USD, chiếm 17,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh 993 triệu USD, chiếm 13,7%; Quảng Ninh 576,2 triệu USD, chiếm 8,0%; Hải Phòng 509,4 triệu USD, chiếm 7,0%; Bình Dương 426,5 triệu USD, chiếm 5,9%; Đồng Nai 373,7 triệu USD, chiếm 5,2%; Hải Dương 336,2 triệu USD, chiếm 4,6%...

Trong số 49 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại Việt Nam trong 8 tháng, Hàn Quốc vẫn là nhà đầu tư lớn nhất với 2467,8 triệu USD, chiếm 34,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) với 1047,1 triệu USD, chiếm 14,5%; Nhật Bản 769,9 triệu USD, chiếm 10,6%; Xin-ga-po 594,2 triệu USD, chiếm 8,2%; Đài Loan 410,0 triệu USD, chiếm 5,7%; In-đô-nê-xia 353,2 triệu USD, chiếm 4,9%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 295,2 triệu USD, chiếm 4,1%...

 
tm gia sư dạy km