Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014

Cập nhật ngày: 10/07/2014

Kinh tế - xã hội nước ta 6 tháng đầu năm nay diễn ra trong bối cảnh thế giới tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp cả về kinh tế và chính trị. Một số nền kinh tế lớn mặc dù có kỳ vọng tăng trưởng khá nhưng vẫn còn nhiều yếu tố rủi ro như: Việc điều chỉnh chính sách tiền tệ và những yếu tố không bền vững trong chính sách tài chính công dài hạn của một số nền kinh tế phát triển; tình trạng bất ổn của các nền kinh tế mới nổi; phục hồi trong khu vực đồng Euro vẫn còn yếu... Ở trong nước, sản xuất kinh doanh tiếp tục đối mặt với những khó khăn, áp lực: Sức mua trên thị trường thấp; khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa cao; sức ép nợ xấu còn nặng nề; hàng hóa trong nước tiêu thụ chậm... Trong đó, đáng chú ý là quá trình tái cơ cấu kinh tế diễn ra thiếu đồng bộ và chưa thực sự có những bước đi hiệu quả. Ngoài ra, thời gian gần đây tình hình biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp, bước đầu ảnh hưởng đến động thái phát triển kinh tế - xã hội và đời sống dân cư cả nước.

Trước bối cảnh đó, Đảng, Quốc hội và Chính phủ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các ngành, các cấp và địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ. Sự nỗ lực vượt qua khó khăn, phát huy tính chủ động, sáng tạo của toàn quân và toàn dân, trong đó có cộng đồng doanh nghiệp trong cả nước đã góp phần giữ ổn định vĩ mô, từng bước phát triển sản xuất, tạo tăng trưởng kinh tế hợp lý và bảo đảm an sinh xã hội. Kết quả thực hiện mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu năm 2014 trong 6 tháng đầu năm như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2014 ước tính tăng 5,18% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó quý I tăng 5,09%; quý II tăng 5,25%. Đây là mức tăng GDP cao so với mức tăng cùng kỳ năm 2012 và 2013[1] và cả ba khu vực đều có mức tăng cao hơn mức tăng cùng kỳ năm 2013. Trong mức tăng 5,18% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,96%, cao hơn mức 2,07% của cùng kỳ năm 2013, đóng góp 0,55 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,33%, cao hơn mức 5,18% của 6 tháng đầu năm 2013, đóng góp 2,06 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,01%, cao hơn mức 5,92% của cùng kỳ năm 2013, đóng góp 2,57 điểm phần trăm. Đây là những dấu hiệu tích cực, toàn diện về tăng trưởng của nền kinh tế.

Như vậy, khu vực dịch vụ tiếp tục đóng góp cao vào mức tăng trưởng chung. Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực dịch vụ có mức tăng khá so với cùng kỳ năm 2013 là: Bán buôn và bán lẻ tăng 5,78%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,50%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,51%. Hoạt động kinh doanh bất động sản bước đầu có những tín hiệu tốt với mức tăng 2,65%, cao hơn mức 1,8% của cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do lãi suất ngân hàng tiếp tục giảm dần, chính sách của nhà nước về hỗ trợ ngành bất động sản đang dần phát huy tác dụng và các điều kiện cho vay mua nhà cũng được nới lỏng.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 5,45%, tuy cao hơn mức 5,19% của cùng kỳ năm 2013 nhưng vẫn ở mức thấp so với một số năm gần đây[2]. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã có chuyển biến tích cực với mức tăng 7,89%, cao hơn mức tăng cùng kỳ một số năm trước[3], góp phần tác động lớn đến mức tăng trưởng chung. Ngành khai khoáng tiếp tục giảm kể từ quý III năm 2013, chỉ đạt 97,53% so với cùng kỳ 2013. Ngành xây dựng tăng 4,6%, thấp hơn mức tăng 5,09% của 6 tháng đầu năm 2013.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành thủy sản có mức tăng cao nhất với 5,85% nhưng chỉ đóng góp 0,18 điểm phần trăm trong mức đóng góp của khu vực vào mức tăng chung; ngành nông nghiệp mặc dù tăng thấp nhất ở mức 2,25% nhưng đóng góp 0,33 điểm phần trăm do quy mô nông nghiệp hiện vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong khu vực với khoảng 77%; ngành lâm nghiệp đóng góp 0,04 điểm phần trăm.

Cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm nay vẫn theo hướng tích cực. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 17,69%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,70%; khu vực dịch vụ chiếm 43,61% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2013 là: 18,18%; 38,70%; 43,12%).

Xét về góc độ sử dụng GDP của 6 tháng năm nay, tiêu dùng cuối cùng tăng 5,19% so với cùng kỳ năm 2013 và đóng góp 4,09 điểm phần trăm vào mức tăng chung, trong đó tiêu dùng cuối cùng của dân cư tăng 5,04%, cao hơn mức tăng 4,49% của cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 5,80%, đóng góp 1,66 điểm phần trăm.

Tổng sản phẩm trong nước 6 tháng năm 2014

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 357,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 261,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5%; lâm nghiệp đạt 11,7 nghìn tỷ đồng, tăng 5,9% và thuỷ sản đạt 84 nghìn tỷ đồng, tăng 6%.

a. Nông nghiệp

Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm nay ước tính đạt 3116,3 nghìn ha, tăng 10,7 nghìn ha và bằng 100,3% vụ đông xuân năm 2013, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1161,4 nghìn ha, bằng 100,3%; các địa phương phía Nam đạt 1954,9 nghìn ha, bằng 100,4%. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân cả nước năm nay ước tính đạt 66,9 tạ/ha, tăng 2,4 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước; sản lượng đạt 20,8 triệu tấn, tăng 812,2 nghìn tấn.

Tính đến ngày 15/6, các địa phương phía Bắc thu hoạch được 995,3 nghìn ha lúa đông xuân, mặc dù chỉ bằng 91,5% so với cùng kỳ năm trước nhưng nhờ năng suất ước tính đạt 62,6 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha nên sản lượng đạt 7,3 triệu tấn, tăng 119,5 nghìn tấn. Riêng vùng đồng bằng sông Hồng do diện tích gieo cấy giảm và chịu ảnh hưởng của thời tiết nên năng suất lúa ước tính đạt 65,7 tạ/ha, bằng cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 3,6 triệu tấn, giảm 24 nghìn tấn. Các địa phương phía Nam đã cơ bản thu hoạch xong lúa đông xuân, sản lượng ước tính đạt 13,6 triệu tấn, tăng 692,7 nghìn tấn so với vụ đông xuân 2013, riêng vùng trọng điểm lúa đồng bằng sông Cửu Long đạt khá với 11,2 triệu tấn, tăng 546 nghìn tấn.

Cùng với việc thu hoạch vụ đông xuân, tính đến trung tuần tháng Sáu, các địa phương trên cả nước đã xuống giống được 1977,9 nghìn ha lúa hè thu, bằng 103,3% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 1876,3 nghìn ha, bằng 98%. Diện tích lúa hè thu sớm được thu hoạch đạt 205,6 nghìn ha, bằng 63,9% cùng kỳ năm trước.

Một số cây trồng khác của vụ đông xuân năm nay đã cơ bản thu hoạch xong. Do ảnh hưởng của thời tiết không thuận lợi nên sản lượng giảm: Sản lượng ngô đạt 2,5 triệu tấn, giảm 28,8 nghìn tấn so với năm trước; khoai lang đạt 843 nghìn tấn, giảm 27,8 nghìn tấn; đậu tương đạt 83,6 nghìn tấn, giảm 7 nghìn tấn; lạc đạt 351,9 nghìn tấn, giảm 32 nghìn tấn.

Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm và cây ăn quả đạt khá so với cùng kỳ năm trước: Sản lượng chè tăng 5%; cao su tăng 1,2%; hồ tiêu tăng 7%; cam tăng 5,1%; chuối  tăng 4,1%; đặc biệt sản lượng nho năm nay đạt khá cao với 11,7 nghìn tấn, tăng 10,7%.

Theo kết quả điều tra sơ bộ, tại thời điểm 01/4/2014, đàn trâu cả nước có 2,6 triệu con, giảm 0,6% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 5,2 triệu con, tăng 0,7%; đàn bò sữa có 200,4 nghìn con, tăng 14%; đàn lợn có 26,4 triệu con, tăng 0,3%; đàn gia cầm có 314,4 triệu con, tăng 0,7%. Sản lượng thịt trâu, bò hơi 6 tháng năm nay đạt xấp xỉ mức cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt lợn hơi đạt 1,9 triệu tấn, tăng 1,7%; thịt gia cầm đạt 442,8 nghìn tấn, tăng 0,6%; trứng gia cầm đạt 4,5 triệu quả, tăng 5,5%; sản lượng sữa bò đạt 2,7 triệu tấn, tăng 19,2%.

Đến ngày 24/6/2014, dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng và dịch tai xanh trên lợn chưa qua 21 ngày đã được khống chế.

b. Lâm nghiệp

Trong 6 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 71,4 nghìn ha, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước. Một số tỉnh có diện tích rừng trồng mới tập trung đạt cao: Tuyên Quang 10,8 nghìn ha, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước; Yên Bái 10,4 nghìn ha, tăng 15,6%; Quảng Ninh 10,1 nghìn ha, tăng 12,8%; Phú Thọ 6,2 nghìn ha, tăng 16,8%.

Khai thác lâm sản tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác 6 tháng đạt 2616 nghìn m3, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2013; củi đạt 15,4 triệu ste, tăng 3,2%. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Quảng Ngãi đạt 296 nghìn m3, tăng 41%; Quảng Nam đạt 240 nghìn m3, tăng 14,3%; Bình Định đạt 176 nghìn m3, tăng 19,8%; Phú Thọ đạt 164,7 nghìn m3, tăng 11,5%; Nghệ An đạt 152 nghìn m3, tăng 18,8%; Quảng Bình đạt 130 nghìn m3, tăng 66,6%. Sản lượng gỗ khai thác tăng do nguồn cung và thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước ổn định. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 6 tháng đầu năm tăng 16% so với cùng kỳ năm 2013.

Thời tiết trong năm có những diễn biến phức tạp gây nguy cơ cao cho cháy rừng. Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 05/3/2014 về việc tăng cường các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. Các địa phương đã tích cực, chủ động triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy rừng ngay từ đầu năm. Tuy nhiên, trong kỳ do thời tiết nắng nóng và khô hạn kéo dài nên tại nhiều vùng trên cả nước đã xảy ra tình trạng cháy rừng, nhất là các tỉnh vùng Trung bộ và Trung du miền núi phía bắc. Trong 6 tháng đầu năm, diện tích rừng thiệt hại trên cả nước là 2154 ha, tăng 59% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy 1734 ha, gấp 2 lần; diện tích rừng bị chặt phá 420 ha, giảm 17,6%. Một số địa phương có diện tích rừng bị cháy nhiều: Yên Bái 692,2 ha; Lai Châu 171 ha; Nghệ An 115 ha; Quảng Trị 99,3 ha. Một số địa phương có diện tích rừng bị chặt phá nhiều: Đắk Nông 89,3 ha; Bắc Giang 89,2 ha; Lâm Đồng 56,7 ha; Kon Tum 54,8 ha.

c. Thủy sản

Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước tính đạt 2866,5 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó cá đạt 2128,3 nghìn tấn, tăng 1,9%, tôm đạt 312,9 nghìn tấn, tăng 20,8%.

Diện tích nuôi trồng thủy sản trong kỳ ước tính đạt 933 nghìn ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá đạt 286 nghìn ha, xấp xỉ cùng kỳ; diện tích nuôi tôm đạt 601 nghìn ha, tăng 1,1%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng ước tính đạt 1453 nghìn tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1090,3 nghìn tấn, giảm 1%; tôm đạt 229,5 nghìn tấn, tăng 26,2%; thủy sản nuôi trồng khác đạt 133 nghìn tấn, tăng 9,2%.

Nuôi cá tra tiếp tục gặp khó khăn do giá thức ăn tăng cao, giá tiêu thụ sản phẩm giảm, các thị trường xuất khẩu lớn như: Mỹ, EU bị thu hẹp. Diện tích nuôi thả cá tra công nghiệp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến giữa tháng Sáu ước tính đạt 3500 ha, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng cá tra thu hoạch 6 tháng ước tính đạt 55 nghìn tấn, giảm 1,6%, trong đó một số tỉnh giảm nhiều: Cần Thơ đạt 57 nghìn tấn, giảm 7,5%; An Giang đạt 126 nghìn tấn, giảm 3,6%; Vĩnh Long 51 nghìn tấn, giảm 1,7%.

Nuôi tôm tiếp tục chuyển dịch mạnh cơ cấu từ nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng do tôm thẻ chân trắng có thời gian nuôi ngắn, năng suất cao nên hiệu quả kinh tế hơn. Diện tích thu hoạch tôm sú 6 tháng ước tính đạt 495 nghìn ha, giảm 10% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 106 nghìn tấn, giảm 5,5%. Trong khi đó, tôm thẻ chân trắng có diện tích và sản lượng tăng mạnh với diện tích đạt 53 nghìn ha, tăng 111% và sản lượng ước đạt 117 nghìn tấn, tăng 105% so với cùng kỳ năm 2013. Một số tỉnh có sản lượng tôm thẻ chân trắng tăng cao: Bến Tre đạt 18,3 nghìn tấn, tăng 9,7 nghìn tấn; Trà Vinh 8,9 nghìn tấn, tăng 7,9 nghìn tấn; Bạc Liêu 8,2 nghìn tấn, tăng 7,1 nghìn tấn; Tiền Giang 5,3 nghìn tấn, tăng 3,7 nghìn tấn. Tuy nhiên, do sự chuyển dịch cơ cấu còn mang tính tự phát ở hầu hết các địa phương, cùng với việc không tuân thủ đúng lịch thả nuôi và điều kiện kỹ thuật nên dịch bệnh phát sinh, dẫn đến một số địa phương phải thu hoạch sớm khi tôm chưa đạt chất lượng thương phẩm. Trong thời gian tới, cần có kế hoạch đầu tư cụ thể và khoa học đối với loại tôm thẻ chân trắng tại các địa phương để tránh tình trạng nguồn cung dư thừa, dẫn đến giá giảm và thua lỗ. Nuôi thủy sản trên biển phát triển khá với chủng loại ngày càng đa dạng, sản lượng 6 tháng ước tính đạt 170 nghìn tấn, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thuỷ sản khai thác 6 tháng ước tính đạt 1413,5 nghìn tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 1328,7 nghìn tấn, tăng 5,6%. Sản lượng khai thác tăng cao chủ yếu do thời tiết trong 6 tháng đầu năm tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác hải sản, các loại cá nổi trong vụ cá Bắc xuất hiện nhiều nên ngư dân tranh thủ ra khơi đánh bắt. Nghề câu cá ngừ đại dương ở một số địa phương hiện nay chưa đạt hiệu quả cao. Nguyên nhân do ngư dân khai thác chưa áp dụng đúng kỹ thuật nên chất lượng cá không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, dẫn đến giá bán ở mức thấp và sản lượng khai thác giảm. Sản lượng cá ngừ đại dương trong 6 tháng ước tính đạt 10,4 nghìn tấn, giảm 16% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó Bình Định đạt 5,7 nghìn tấn, giảm 12,3%; Phú Yên 3,2 nghìn tấn, giảm 22,1%; Khánh Hòa 1,5 nghìn tấn, giảm 21%...

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Sáu ước tính tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2013, cao hơn mức tăng 5,3% của cùng kỳ năm trước (Quý I tăng 5,3%, quý II tăng 6,3%).

Trong mức tăng chung toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm nay, ngành chế biến, chế tạo tăng 7,8% (Quý I tăng 7,4%, quý II tăng 8,3%), cao hơn mức tăng 6,1% của cùng kỳ năm 2013 và đóng góp 5,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 10,9%, cao hơn mức tăng 8,2% của cùng kỳ năm 2013 và đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 5,9%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai thác tiếp tục giảm ở mức 2,5%, làm giảm 0,5 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành sản xuất, một số ngành có chỉ số sản xuất 6 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất xe có động cơ tăng 22,9%; dệt tăng 21,3%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 19,2%; sản xuất trang phục tăng 12,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 12,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,9%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 10,6%... Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất kim loại tăng 10%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 9,1%; sản xuất thiết bị điện tăng 8%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất đồ uống tăng 6,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 5%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 1,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 0,1%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 2,5%; khai thác than cứng và than non giảm 4,4%; sản xuất thuốc lá giảm 12,7%...

Trong các sản phẩm sản xuất, một số sản phẩm đạt mức tăng 6 tháng cao so với cùng kỳ năm 2013: Thép cán tăng 25,4%; ô tô tăng 24,2%; điện thoại di động tăng 22,7%; giày, dép da tăng 22,2%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 17,6%; tivi tăng 17,2%; điện sản xuất tăng 11,5%; thủy hải sản chế biến tăng 11,5%; bột giặt và các chế phẩm tẩy, rửa tăng 11%; sữa tươi tăng 10,8%; quần áo tăng 10,6%; phân ure tăng 9,2%; xi măng tăng 7,3%… Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ: Thép không gỉ giảm 14,3%; thuốc lá điếu giảm 12,8%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 8%; xe máy giảm 7,7%; dầu gội, dầu xả giảm 4,4%; sơn hóa học giảm 4,2%; sữa bột giảm 4,2%; đường tinh chế giảm 4%; sắt, thép thô giảm 2,9%…

Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 11,9%; Đà Nẵng tăng 10,7%; Quảng Nam tăng 9,3%; Hải Dương tăng 7,9%; Đồng Nai tăng 7,7%; Bình Dương tăng 7,3%; Cần Thơ tăng 6,1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,6%; Hà Nội tăng 4,3%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 3,4%; Quảng Ninh tăng 0,9%; Bắc Ninh tăng 0,2%; Quảng Ngãi giảm 21,2%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 5/2014 tăng 2,1% so với tháng trước  tăng 19,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2014, chỉ số tiêu thụ ngành này tăng 9% so với cùng kỳ năm trước (cao hơn mức tăng 7,6% của chỉ số sản xuất ngành này 5 tháng đầu năm 2013). Các ngành có chỉ số tiêu thụ 5 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2013: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 62,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 18,4%; sản xuất thiết bị điện tăng 16,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 13,9%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 12,2%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 5 tháng tăng thấp: Sản xuất trang phục tăng 7,4%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 7,3%; dệt tăng 5,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic tăng 5,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 5,1%; sản xuất kim loại tăng 5%; sản xuất đồ uống tăng 4,5%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 3%.

Tại thời điểm 01/6/2014, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,8% so với cùng thời điểm năm 2013, cao hơn mức tăng 9,7% của cùng thời điểm năm trước và cao hơn mức tăng 12,6% của cùng thời điểm tháng trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 11,7%; sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic tăng 10,4%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 6,1%; sản xuất thiết bị điện tăng 2,1%; dệt tăng 1,7%; sản xuất xe có động cơ giảm 2,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 12,8%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 138%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 62,1%; sản xuất trang phục tăng 32,6%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 30,4%; sản xuất kim loại tăng 25,3%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 5 tháng đầu năm nay là 77,7%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu 164,2%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 131,9%; sản xuất kim loại 89%.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/6/2014 tăng 2,7% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,2%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,4% và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 3,2%. Tại thời điểm trên, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp khai khoáng giảm 2,9% so với cùng thời điểm năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,1%; công nghiệp sản xuất, phân phối điện tăng 3,3%; công nghiệp cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,8%.

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn tại thời điểm 01/6/2014 so với cùng thời điểm năm trước như sau: Quảng Ngãi tăng 7,6%; Bắc Ninh tăng 6,6%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 6,3%; Quảng Nam tăng 6,1%; Vĩnh Phúc tăng 5,6%; Quảng Ninh tăng 2,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,2%; Đồng Nai tăng 2,1%; Đà Nẵng tăng 1,3%; Hà Nội tăng 1,4%; Hải Dương tăng 1%; Cần Thơ giảm 0,1%; Bình Dương giảm 2,8%; Hải Phòng giảm 4%.

Chỉ số tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

 


[1] Mức tăng GDP 6 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số năm như sau: Năm 2012 tăng 4,93%; năm 2013 tăng 4,90%.

[2] Mức tăng 6 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số năm: Năm 2010 tăng 5,93%; năm 2011 tăng 7,83%; năm 2012 tăng 6,17%.

[3] Mức tăng 6 tháng so với cùng kỳ năm trước của ngành CN chế biến, chế tạo một số năm như sau: Năm 2012 tăng 5,71%;  năm 2013 tăng 5,83%.

 

 

 
tm gia sư dạy km